Quốc phú, binh cường là gì tuyệt vời nhất 2024

Xem Quốc phú, binh cường là gì tuyệt vời nhất 2024

Quốc phú – binh cường – nội yên – ngoại tĩnh là các tiêu chí của công đoạn dựng nước và giữ nước hàng trăm năm của dân tộc Việt Nam. Ngoại giao là một bộ phận hợp thành của sự nghiệp dựng nước và giữ nước. 

Ngụ binh ư nông (chữ Hán: 寓兵於農), theo nghĩa tiếng Việt là “gửi binh ở nông: gửi quân vào nông nghiệp, cho binh lính lao động, chế tạo tại địa phương trong một khoảng thời gian thừa nhận”, là chính sách xây dựng lực lượng quân sự thời phong kiến ở Việt Nam

Mục lục

  • 1 Nội dung
    • 1.1 biện pháp vật dụngc tuyển binh
    • 1.2 Phiên cấp quân đội địa phương
  • 2 Tác dụng
  • 3 Xem thêm
  • 4 Tham khảo
  • 5 Chú đam mê

Nội dung Sửa đổi

Đây là chính sách xây dựng quân đội gắn liền sở hữu nông dân, lâm nghiệp và nông thôn. Nhà Đinh là triều đại phong kiến đầu tiên ở Việt Nam áp dụng chính sách này. Bắt đầu từ thời Lý, quân đội được xây dựng có tính chính quy và phân cấp thành quân triều đình (cấm quân đóng ở trong và xung quanh kinh thành, chịu trách nhiệm canh gác cung điện, phủ quan…, còn gọi là “thiên tử binh”) và quân địa phương (quân ở các lộ, đạo, dân binh ở hương, động, sách… còn gọi là “lộ quân” hay “sương quân”). Sang thời Trần có thêm quân của các vương hầu nhưng số lượng không đáng kể. Sang thời Hậu Lê thì lực lượng này bị xoá bỏ, chính sách ngụ binh ư nông áp dụng cả có cấm quân ở kinh thành. Từ thời Mạc, áp dụng chế độ “lộc điền” (hay còn gọi là “binh điền”) nhằm ưu đãi cho lực lượng quân đội, chính sách ngụ binh ư nông không còn được áp dụng. Tới khoảng năm 1790, một dạng của phép ngụ binh ư nông được Nguyễn Ánh thi hành ở khu vực Gia Định, miền cực nam Đại Việt, theo đó binh lính cũng được huy động vào việc đáp ứng cần thiết cần thiết khoáng sản. Họ vừa bắt đầu làm chiến đấu vừa được khuyến khích lẫn bị bắt buộc cầy cấy để tận dụng các mảnh đất bị bỏ hoang vì chiến tranh.

biện pháp thiết bịc tuyển binh Sửa đổi

cách lắp thêmc tuyển binh được áp dụng tuỳ từng giai đoạn và từng chiếc quân như cấm quân, lộ quân hay phủ quân… công việc này do các quan võ ở địa phương trực tiếp khiến việc dựa trên sổ hộ tịch mà những xã quan lập ra. Hàng năm những xã quan có trách nhiệm lập sổ hộ tịch, tiến hành kiểm kê dân đinh ở địa bàn mình quản lý. Trên cơ sở đó, xã quan phân dân sài thành những hạng: tôn thất; quan văn, võ; người hầu hạ; dân lưu xứ; hoàng nam; long lão (người già yếu); người tàn tật. Nhà Lý gọi những đinh nam từ 18 tuổi trở lên đến tuổi binh dịch được gọi là hoàng nam, từ 20 tuổi trở lên gọi là đại hoàng nam. Nhà Trần thì gọi từ 18 đến 20 tuổi là Tiểu hoàng nam, từ 20 tuổi trở lên là Đại hoàng nam.

Tính quân luật được thực hành nghiêm ngặt trong việc tuyển binh nhằm tránh hiện tượng khai man, bao che, hối lộ để trốn lính. không tính ra triều đình còn thường tiến hành những cuộc thanh tra ở những địa phương để nắm bắt tình hình, kịp thời chuẩn bị phòng khi đất nước có chiến tranh. Thời Trần, những người lúcến gian lận sổ hộ tịch để che giấu dân định bị siêu nặng, người đào ngũ có thể bị chặt ngón chân hoặc thậm chí xử tử như tội phản quốc. những trường hợp miễn quân dịch được quy định cụ thể như: không lấy con trai độc nhất, không lấy con quan từ Bát phẩm trở lên. Do sự chặt chẽ[3] đó bắt buộc quân số được huy động vào mỗi đợt chiến tranh ko có sự chênh lệch quá lớn giữa số liệu thực tế và trên sổ sách.[4]

Phiên cấp quân đội địa phươngSửa đổi

Việc phiên cấp quân địa phương (chia phiên và thời gian tập luyện) khá thuần nhất và đóng vai trò nòng cốt trong chính sách “ngụ binh ư nông”. Sau mỗi lần tuyển binh, quân địa phương được chia thành nhiều “phiên” (một phiên là một đơn vị quân, số lượng tuỳ vào từng địa phương, cốt lấy người khỏe mạnh đủ có thể kéo quân ngũ). những phiên sẽ thay nhau dồn vào tập luyện tại doanh trại trong một khoảng thời gian nhất định. Mỗi tháng sẽ tiến hành đổi phiên một lần. Việc thay phiên thường được thực hành vào mồng Một hoặc ngày Rằm. do đó trong thời bình, binh lính chia nhau vừa cung ứng nông nghiệp ở địa phương vừa tập luyện ở doanh trại.

Tác dụng Sửa đổi

nhu cầu bảo vệ đất nước và bảo vệ chính quyền cai trị cần một lực lượng quân đội hùng hậu. Tuy nhiên, nhu cầu nhân lực để cung cấp nông nghiệp cho đời sống cũng vô cùng lớn. do đó việc đưa quân về địa phương luân phiên cày cấy giúp lực lượng này tự túc được về lương thực, bớt gánh nặng về lương thực nuôi quân cho triều đình[7].

Ngụ binh ư nông là việc liên kết hài hoà giữa việc quân sự và nông nghiệp, giữa kinh tế và quân sự, chuyển hóa nhanh từ thời bình và sang thời chiến khi cần. Nhờ chính sách này, triều đình có được lực lượng quân đội hùng mạnh, đông đảo trong khi hỗ trợ nông nghiệp vẫn được duy trì. Thời Lý có số quân tham chiến chống nhà Tống khoảng 10 vạn người[8], thời Trần khi có chiến tranh chống quân Nguyên có hơn 20 vạn quân[3], sang thời Lê sơ khi có chiến tranh có thể huy động 26-30 vạn quân[9].

Chính sách ngụ binh ư nông phản ánh tư duy nông binh bất phân (ko phân biệt quân đội và nông dân), đâu có dân là đó có quân, mê say có điều kiện xây dựng nền quốc phòng của một nước đất ko rộng, người ko đông, cần nên huy động tiềm lực cả nước vừa cấp dưỡng, vừa đánh giặc[10].

Tới những thời đại sau thời Lê sơ, chính sách này không còn được áp dụng do tình trạng cát cứ và chiến tranh triền miên trong cả nước. Ngay như thời Tây Sơn, thời đại mà trình độ quân sự lớn mạnh siêu cao, buộc phải tác chiến thường xuyên không cho phép những người lãnh đạo duy trì chính sách này.

Xem thêmSửa đổi

  • Quân đội nhà Lê Sơ
  • Quân đội nhà Trần
  • Quân đội nhà Mạc
  • Toàn quốc vi binh

Tham khảoSửa đổi

  • Viện Sử học (1996), Vương triều Mạc, Nhà xuất bản công nghệ xã hội
  • Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản khoa học xã hội
  • Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn chủ biên (2008), Đại cương lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục
  • Đại Việt sử lược
  • Sơn Nam (2009), Lịch sử Khẩn Hoang Miền Nam (ấn bản 1), Nhà xuất bản Trẻ.
  • Nguyễn Tiến Dũng, Văn hoá Việt Nam thường đồ vậtc, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Viện sử học (1996), sách đã dẫn, tr 52
  2. ^ Sơn Nam, sách đã dẫn, tr 55-56
  3. ^ a b Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 181
  4. ^ Văn hoá Việt Nam thường vật dụngc, sách đã dẫn, tr 335-336
  5. ^ Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 182
  6. ^ Văn hoá Việt Nam thường lắp thêmc, sách đã dẫn, tr 336-337
  7. ^ Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 126
  8. ^ Đại Việt sử lược, quyển 2
  9. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 174
  10. ^ Nguyễn Trọng Tuấn – ĐẶC SẮC TƯ DUY QUÂN SỰ VIỆT NAM THỜI PHONG KIẾN

Bạn đang đọc bài viếtQuốc phú, binh cường là gì tuyệt vời nhất 2024


✅ Thâm niên trong nghềCông ty dày dặn nghiệm trong ngành giặt từ 5 năm trở lên.
✅ Nhân viên chuyên nghiệpĐội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, nhiệt tình có kinh nghiệm và kỹ năng trong giặt đồ.
✅ Chi phí cạnh tranhChi phí giặt luôn cạnh tranh nhất thị trường và đảm bảo không có bất kỳ chi phí phát sinh nào.
✅ Máy móc, thiết bị hiện đại⭐Chúng tôi đầu tư hệ thống máy móc, thiết bị hiện đại nhất để thực hiện dịch vụ nhanh chóng và hiệu quả nhất

HỆ THỐNG CỬA HÀNG GIẶT LÀ CÔNG NGHIỆP PRO

 

Cở sở 01: Ngõ 199/2 Đường Phúc Lợi, Phúc Lợi, Long Biên, Hà Nội

Cơ Sở 02: Số 200, Trường Chinh, Quận Thanh Xuân, Hà Nội

Cơ Sở 03: Số 2C Nguyên Hồng, Thành Công, Ba Đình, Hà Nội

Cơ Sở 04: Số 277 Thanh Nhàn, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Cơ Sở 05: Số 387 Phúc Tân, Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Cơ Sở 06: Số 4 Hàng Mành, Hàng Gai, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Cơ Sở 07: Số 126, Thượng Đình, Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội

Cơ Sở 08: Số 261 Nguyễn Khang, Yên Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội

Cơ Sở 09: Số 68 Nguyễn Lương Bằng, Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội

Cơ Sở 10: Tầng 7, Plaschem 562 Nguyễn Văn Cừ, Long Biên, Hà Nội

Cơ Sở 11: Số 72, Phố An Hòa, P. Mộ Lao, Hà Đông, Hà Nội

Cơ Sở 12: Số 496, Thụy Khuê, Bưởi, Quận Tây Hồ, Hà Nội