Phù du là con gì tuyệt vời nhất 2024

Xem Phù du là con gì tuyệt vời nhất 2024

Phù du là chiếc côn trùng tương đối cổ xưa, đã tạo buộc đề nghị từ hơn 300 triệu năm trước. Thân nó bé nhỏ yếu ớt, đầu nhỏ, mắt to, cánh màng rất yếu rất dễ bị rụng, chân rất nhỏ, không dùng để bò, chỉ để đậu bám.

Phù du là loài vật có tuổi thọ ngắn nhất trên thế giới này. Tuổi thọ của nó chỉ kéo dài trong vòng 24 giờ. Có khoảng 2.500 loài phù du khác nhau trên cuộc sống.

Trong thực tế, một số thành viên của gia đình loài phù du chết trong vòng vài giờ. do đó bộ phù du dành chủ yếu cuộc đời trong nhộng. Một và chỉ một mục đích bộ phù du là một bản tái tạo. Trong khoảng thời gian ngắn này của cuộc sống, nó hình thành các nhóm và nhảy cùng nhau trên tất cả các bề mặt.

Phù du trưởng thành giao phối xong đẻ trứng vào nước, ấu trùng nên sống 1-3 năm ở trong nước, rồi bò lên bờ lột xác mới thành phù du trưởng thành.

Phù du trưởng thành sống ngắn ngủi do vậy, nhưng phù du ấu trùng lại sống khá lâu.  Ấu trùng thường vũ hóa sau khi mặt trời lặn thành bướm non, giờ đây đã giống mang phù du trưởng thành, nhưng còn một lớp màng mờ bao bọc toàn thân màu đen, cánh xẫm, không linh hoạt, không giao phối được.

Sau khi bướm non lột xác, mới có đuôi cánh màng trong suốt, tươi sáng, thành phù du trưởng thành. giai đoạn trưởng thành nó không ăn uống gì, chỉ lo việc giao phối, đẻ trứng. Đẻ xong là chết, hàng loạt phù du chết bên hồ đến mức trơn chuội. Từ khi trứng nở thành ấu trùng thường yêu cầu lột xác 20-24 lần có khi đến 40 lần. Ấu trùng phù du là máyc ăn ngon của cá.

Phù du trưởng thành sở dĩ chóng chết Bởi vậy bởi miệng của nó đã thoái hóa, không thể ăn uống được gì.

các loài có tuổi đời ngắn ngủi

Động vật biển rất nhỏ Gastrotrichs là loài vật xếp thứ hai về tuổi thọ ngắn ngủi, chỉ khoảng ba ngày. Chúng có độ lớn cỡ 0,06 – 3 mm, sống ở môi trường nước ngọt, có thân hình phẳng gần như trong suốt. Loài Gastrotrichs sinh sản vô tính.

Giun bụng lông chỉ sống được 3 ngày. Nó có cấu trúc cơ thể trong suốt sở hữu kích cỡ tối đa là 3mm. Đây là loài vật có cả bộ phận sinh dục đực và bộ phận sinh dục cái để sinh sản.

Trong một tổ kiến, các con kiến đực có tuổi thọ chỉ 3 tuần. Nó cực kỳ lười nhác, không bao giờ thực hành nhiều. Tổ kiến luôn luôn là do các con kiến cái xây lên. Tuy nhiên, có một điều thú vị là kiến đực sẽ chết cực kỳ nhanh một khi nó giao phối sở hữu kiến loại. Chính do vậy, kiến đực đóng vai trò cực kỳ cần thiết trong việc duy trì sự tồn tại của tổ kiến suốt quãng đời ngắn ngủi của nó.

Ruồi là một trong các loài vật phổ biến và gây bực bội nhất, phiền phức nhất ko kể ngôi nhà chúng ta đang ở. Loài vật này có tuổi thọ chỉ 4 tuần. Ruồi sống ở khu vực dân cư thường có tuổi thọ dài hơn ruồi trong trong lúc không. Trong suốt quãng đời của mình, mỗi con ruồi cái đẻ tới 1.000 quả trứng.

Trên trái đất có khoảng 5.000 loài chuồn chuồn khác nhau. Chuồn chuồn sống lâu nhất là được 4 tháng. Tuy nhiên, đầy đủ chuồn chuồn ko thể sống được đến 4 tháng do chúng thường bị các con vật khác ăn thịt như nhện, chim, thằn lằn và ếch. Một số điều kiện thời tiết khác như gió mạnh cũng lúcến cho ấu trùng chuồn chuồn ko thể nở được. Chuồn chuồn cũng ko tồn tại được lâu trong điều kiện thời tiết lạnh giá.

Video đến Tisza – Hungary xem hàng triệu con phù du ‘yêu nhau’:

Sinh vật phù du là các sinh vật nhỏ bé, thường là đồ vậtc ăn của các loài cá lớn, nhỏ như cá nhám voi và cá tráo.

Tên gọi của chúng bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp πλαγκτoν – có nghĩa là “kẻ du mục hay các tên sống trôi nổi”. khoa học nghiên cứu về plankton được gọi là Planktology.

 

Một con amphipod

Vì rằng các loài trong nhóm plankton chỉ có thể di chuyển theo chiều thẳng đứng tới vài trăm mét trong một ngày (một tập tính được gọi là di cư theo chiều thẳng đứng) yêu cầu việc dịch chuyển theo phương nằm ngang của plankton lệ thuộc được để ý vào sự chuyển động của chiếc nước đựng chúng. Điều này khác mang các sinh vật tự bơi (Nekton), các sinh vật này thường lớn hơn, ví dụ mực, cá và các loài thú biển và có thể kiểm soát được sự di chuyển theo chiều ngang cũng như bơi ngược chiếc nước.

Plankton là các sinh vật khá nhạy cảm với các thay đổi về các tính chất lý hóa của nước.

 

Một số loài tảo silic – nhóm thảo mộc phù du quan trọng

Plankton có thể được chia thành Holoplankton và Meroplankton:

  • Holoplankton: là các sinh vật dành toàn bộ vòng đời của nó sống trôi nổi; ví dụ: Copepods, Salps krill hay jellyfish.
  • Meroplankton: Là bọn chỉ có một công đoạn nhất định trong vòng đời sống trôi nổi (thường là trạng thái ấu trùng) ví dụ: sao biển, giáp xác, giun biển và đại khái cá.

Theo độ lớn

 

copepod (Calanoida sp.) dài khoảng 1-2mm

giả dụ dựa theo độ lớn thì có thể chia Plankton thành các nhóm:

  • Megaplankton, 2×10−1→2×100 m (20–200 cm)
  • Macroplankton, 2×10−2→2×10−1 m (2–20 cm)
  • Mesoplankton, 2×10−4→2×10−2 m (0.2 mm-2 cm)
  • Microplankton, 2×10−5→2×10−4 m (20-200 μm)
  • Nanoplankton, 2×10−6→2×10−5 m (2-20 μm)
  • Picoplankton, 2×10−7→2×10−6 m (0.2-2 μm), toàn bộ là vi khuẩn
  • Femtoplankton, < 2×10−7 m, (< 0.2 μm, nhỏ hơn 0,2 μm), bao gồm một vài loài virus biển

Tuy nhiên, một vài thuật ngữ trên có thể được dùng tương đối linh hoạt, đặc biệt là ở các nhóm có kích thước lớn. Sự tồn tại và tầm quan trọng của nhóm Nano- hay thậm chí các loài nhỏ hơn mới chỉ được phát hiện từ những năm 1980. Nhưng người ta cho rằng đây là nhóm chiếm một tỷ lệ lớn nhất về số lượng thành viên cũng như về sự đa dạng trong số những nhóm plankton.

Theo căn nguyên phân chiếc

 

An amphipod (Hyperia macrocephala)

nếu dựa theo chức năng thì có thể phân chia Plankton thành những nhóm sau:

  • Phytoplankton (từ gốc Hy Lạp phyton là thực vật), bao gồm những nhóm tảo sống gần mặt nước nơi có đầy đủ ánh sáng cho thủ tục quang hợp.
  • Zooplankton (từ gốc Hy Lạp zoon là động vật), bao gồm những động vật nguyên sinh, giáp xác và phần lớn những động vật nhỏ khác mà chúng cũng có thể dùng những plankton khác làm cho máyc ăn. Zooplankton cũng bao gồm trứng và ấu trùng của một số loài động vật lớn như cá, giáp xác, giun đốt…
  • Bacterioplankton, gồm có vi khuẩn và archaea, chúng giữ một vai trò trọng yếu trong việc hấp thụ những chất dinh dưỡng hòa tan trong nước.

 

Phân bố của sinh vật phù du trên thế giới

Sinh vật phù du sống trong những môi trường như đại dương, biển, hồ, ao. Sự dồi dào theo cấp địa phương của chúng thay đổi theo phương ngang (một lớp), phương đứng (độ sâu) và theo mùa. lý do cơ bản của sự thay đổi này do do ảnh sự thay đổi của ánh sáng. Tất cả những hệ sinh thái của sinh vật phù du chịu ảnh hưởng bởi năng lượng mặt trời (xem hóa tổng hợp), lớn lên ra chúng đa số vững mạnh ở những thể nước trên mặt, và đối với những vùng địa lý và mùa có nhiều ánh sáng mặt trời.

Yếu tố làm thay đổi thứ hai là sự biến động về dinh dưỡng. Mặc dù những khu vực rộng lớn trên những đại dương thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới có ko ít ánh sáng, nhưng chúng ít phát triển do chúng được đáp ứng đòi hỏi ít chất dinh dưỡng như nitrat, phosphat và silicat. Điều này là kết quả của sự tuần hoàn của những mẫu hải lưu và sự phân tầng những lớp nước theo chiều thẳng đứng. Ở những vùng như thế, sự sinh sản sơ cấp thường diễn ra ở các độ sâu lớn hơn, mặc dù có sự suy kém chất lượngm về cấp độ (do sự suy fakem ánh sáng mặt trời).

Mặc dù các hàm lượng chất dinh dưỡng đáng kể nhưng một số khu vực của đại dương được xem là không có hiệu quả (cũng được gọi là các vùng HNLC).[1] Vi chất dinh dưỡng sắt thiếu ở những vùng này, và việc bổ sung nó có thể tạo cho sự nở hoa của một số loài thực vật phù du.[2]

ngoài việc chúng nằm trong các cấp bên dưới của chuỗi vật dụngc ăn có vai trò quan trọng trong công nghiệp thủy sản, các hệ sinh thái sinh vật phù du còn đóng một vai trò trong các chu trình sinh địa hoá của các nguyên tố hóa học quan trọng, bao gồm cả chu trình cacbon của đại dương.

cây xanh phù du, động vật phù du đa số chế tạo carbon cho mạng lưới thiết bịc ăn thông qua, hoặc là chúng hô hấp để đáp ứng thiết yếu năng lượng Giao dịch chất, hoặc lúc chết chúng cấp cấp sinh khối hoặc ở dạng mảnh vụn vật dụngc ăn cho các sinh vật khác. Thông thường lúc chúng nặng hơn nước biển, các vật liệu hữu cơ có xu hướng chìm xuống. Trong hệ sinh thái đại dương mở biện pháp xa bờ biển, sự vận chuyển carbon này sẽ từ bề mặt nước xuống các phần biển sâu hơn. giai đoạn này được gọi là bơm sinh học, và là một trong những nguyên do mà các đại dương tạo thành bể đựng cacbon lớn nhất trên Trái Đất.

Có thể là tăng sự hấp thu khí carbon dioxide do các hoạt động của nhân sinh trong đại dương bằng giải pháp kích ham mê tăng phát hành sinh vật phù du thông qua việc thêm vào vi chất dinh dưỡng sắt như là một mẫu hạt giống. Tuy nhiên, khoa học này có thể không được làm việc ở quy mô lớn. Sự cạn kiệt oxy trong đại dương và sự sản sinh ra các sản phẩm metan (do cung ứng dư thừa sự tái khoáng hóa ở dưới sâu) là một trong những tật xấu tiềm ẩm của bí quyết này.[3][4]

  • Tảo

  1. ^ J. H. Martin & Fitzwater, S. E. (1988). “Iron-deficiency limits phytoplankton growth in the Northeast Pacific Subarctic”. Nature. 331 (6154): 341–343. Bibcode:1988Natur.331..341M. doi:10.1038/331341a0.Quản lý CS1: dùng tham số tác giả (liên kết)
  2. ^ Boyd, P.W.; Watson, AJ; Law, CS; Abraham, ER; Trull, T; Murdoch, R; Bakker, DC; Bowie, AR; Buesseler, KO; và đồng nghiệp (2000). “A mesoscale phytoplankton bloom in the polar Southern Ocean stimulated by fertilization”. Nature. 407 (6805): 695–702. doi:10.1038/35037500. PMID 11048709. “Và đồng nghiệp” được ghi trong: |first= (hỗ trợ)
  3. ^ Chisholm, S.W.; Falkowski, PG; Cullen, JJ; và đồng nghiệp (2001). “Dis-crediting ocean fertilization”. Science. 294 (5541): 309–310. doi:10.1126/science.1065349. PMID 11598285. “Và đồng nghiệp” được ghi trong: |first= (giúp đỡ)
  4. ^ O. Aumont & Bopp, L. (2006). “Globalizing results from ocean in situ iron fertilization studies”. Global Biogeochemical Cycles. 20 (2): GB2017. Bibcode:2006GBioC..20.2017A. doi:10.1029/2005GB002591. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2012.Quản lý CS1: dùng tham số tác giả (liên kết)
  • Omori, M. and Ikeda, T. (1992). Methods in Marine Zooplankton Ecology, Krieger Publishing Company, Malabar, USA.
  • Sinh vật nổi tại Từ điển bách khoa Việt Nam
  • Plankton (biology) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
  • Plankton tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
  • Ocean Drifters – Short film narrated by David Attenborough about the varied roles of plankton
  • Plankton Chronicles – Short documentary films and photos
  • COPEPOD: The Global Plankton Database – Global coverage database of zooplankton biomass and abundance data
  • Plankton*Net – Taxonomic database of images of plankton species
  • Guide to the marine zooplankton of south eastern Australia Lưu trữ 2008-05-30 tại Wayback Machine – Tasmanian Aquaculture and Fisheries Institute
  • Sir Alister Hardy Foundation for Ocean Science – Continuous Plankton Recorder Survey
  • Australian Continuous Plankton Recorder Project Lưu trữ 2008-12-01 tại Wayback Machine – Integrated Marine Observing System
  • Sea Drifters – BBC Audio slideshow
  • Aquaparadox: the diversity of planktonic microorganisms – Images of planktonic microorganisms
  • Plankton, planktic, planktonic Lưu trữ 2012-08-03 tại Wayback Machine – Essays on nomenclature
  • Journal of Plankton Research – Scientific periodical devoted to plankton
  • Động vật phù du và thực vật phù du – bioaqua

Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Sinh_vật_phù_du&oldid=68113018”

Bạn đang đọc bài viếtPhù du là con gì tuyệt vời nhất 2024


✅ Thâm niên trong nghềCông ty dày dặn nghiệm trong ngành giặt từ 5 năm trở lên.
✅ Nhân viên chuyên nghiệpĐội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, nhiệt tình có kinh nghiệm và kỹ năng trong giặt đồ.
✅ Chi phí cạnh tranhChi phí giặt luôn cạnh tranh nhất thị trường và đảm bảo không có bất kỳ chi phí phát sinh nào.
✅ Máy móc, thiết bị hiện đại⭐Chúng tôi đầu tư hệ thống máy móc, thiết bị hiện đại nhất để thực hiện dịch vụ nhanh chóng và hiệu quả nhất

HỆ THỐNG CỬA HÀNG GIẶT LÀ CÔNG NGHIỆP PRO

 

Cở sở 01: Ngõ 199/2 Đường Phúc Lợi, Phúc Lợi, Long Biên, Hà Nội

Cơ Sở 02: Số 200, Trường Chinh, Quận Thanh Xuân, Hà Nội

Cơ Sở 03: Số 2C Nguyên Hồng, Thành Công, Ba Đình, Hà Nội

Cơ Sở 04: Số 277 Thanh Nhàn, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Cơ Sở 05: Số 387 Phúc Tân, Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Cơ Sở 06: Số 4 Hàng Mành, Hàng Gai, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Cơ Sở 07: Số 126, Thượng Đình, Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội

Cơ Sở 08: Số 261 Nguyễn Khang, Yên Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội

Cơ Sở 09: Số 68 Nguyễn Lương Bằng, Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội

Cơ Sở 10: Tầng 7, Plaschem 562 Nguyễn Văn Cừ, Long Biên, Hà Nội

Cơ Sở 11: Số 72, Phố An Hòa, P. Mộ Lao, Hà Đông, Hà Nội

Cơ Sở 12: Số 496, Thụy Khuê, Bưởi, Quận Tây Hồ, Hà Nội